Đây là toàn văn báo cáo của Tiến sĩ Đỗ Nam trong hội nghị GIT 2007, lời văn có vẽ mộc mạc những nội dung phần nào nói lên tâm sự của người trong cuộc về quá trình xây dựng GIS HUẾ cũng như bài học điển hình được rút ra. Hiện nay GIS Huế là một trong những dự án GIS tương đối thành công và được coi là dự án điển hình cho ứng dụng GIS ở Việt Nam.
GIỚI THIỆU VỀ DỰ ÁN XÂY DỰNG HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ (GISHue)
TS. Đỗ Nam
Sở Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên Huế
1. Quá trình hình thành dự án
Tỉnh Thừa Thiên Huế được tham gia vào đề tài KHCN cấp nhà nước “Xây dựng hệ thống thông tin địa lý” với tư cách một đề tài nhánh và được hội đồng nghiệm thu đánh giá xuất sắc vì nhận thức được rằng hệ thống bao gồm “phần cứng, phần mềm và con người” đã thực hiện đúng như thế. Sau đó, các sản phẩm của đề tài đó đã được phát huy, thông qua đề tài KHCN cấp tỉnh “Ứng dụng công nghệ GIS vào quản lý hồ sơ địa chính” ở sở Địa chính, các dự án “Phát triển đô thị Huế - SDC (Thuỵ Sĩ)” và Quản lý tổng hợp vùng ven bờ tỉnh Việt Nam – Hà Lan (VNICZM) ở Thừa Thiên Huếđã sử dụng các bản đồ GIS số hoá do đề tài cung cấp.
Đầu năm 2003 lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế có thư gửi các chuyên gia tư vấn đề nghị nghiên cứu xây dựng dự án, sau hơn hai năm chuẩn bị, đến tháng 6 năm 2006 dự án chính thức được phê duyệt (QĐ số 2123/QĐ-UB của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế ngày 24/6/2005 phê duyệt DA đầu tư với tổng vốn 22 tỷ đồng, Sở KHCN Thừa Thiên Huếđược giao nhiệm vụ là chủđầu tư).
2. Giới thiệu tóm tắt GISHue
2.1 Các mục tiêu
Mục tiêu tổng quát của dự án là “CNTT nói chung, công nghệ GIS nói riêng được ứng dụng một cách có hiệu quảở các cơ quan hành chính, các tổ chức sự nghiệp và các doanh nghiệp trên địa bàn, góp phần đạt được mục tiêu của chương trình cải cách hành chính và chương trình ứng dụng và phát triển CNTT giai đoạn 2006-2010 của địa phương.”
Dự án có 4 mục tiêu cụ thể. Một là “Các thông tin đa ngành liên quan đến các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường, kinh tế và xã hội của tỉnh và một số ngành kinh tế - xã hội (KTXH) trọng điểm được thu thập, tổng hợp và chuyển đổi về dạng dữ liệu số lưu giữ trong máy tính. Hai là “Các cơ sở dữ liệu thông tin địa lý của tỉnh được tạo lập và sẵn sàng cho các mục đích sử dụng khác nhau". Ba là “Các cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh, thành phố Huế và các huyện có đủ cơ sở hạ tầng vật lý, các phần mềm và nhân lực để quản lý và sử dụng các CSDL thông tin địa lý đã và sẽ được xây dựng”. Mục tiêu cuối cùng là “Hệ thống thông tin địa lý của tỉnh được khai thác thử nghiệm và ứng dụng phục vụ các hoạt động quản lý của các ngành và các địa phương.”
Nếu dự án thành công, các tổ chức quản lý hành chính nhà nước địa phương sẽ có công cụ xử lý và quản lý, cộng đồng xã hội sẽ có thông tin và các tổ chức, cá nhân tham gia dự án sẽ có kinh nghiệm tư vấn xây dựng, thẩm định, giám sát và thực hiện dự án. Có nghĩa là tất cả mọi người đều được hưởng lợi từ dự án !
2.2 Các hoạt động hướng đến mục tiêu và các sản phẩm chính
Để đạt được các mục tiêu đề ra, dự án GISHue được thiết kế thành 9 hợp phần là (1) thu thập, phân loại, số hoá dữ liệu, (2) xây dựng bộ chuẩn GISHue, (3) xây dựng các cơ sở dữ liệu thông tin địa lý, (4) xây dựng cơ sở hạ tầng vật lý, (5) mua và xây dựng các phần mềm GIS, (6) đào tạo, (7) xây dựng các quy định kỹ thuật và hành chính, (8) khai thác thử nghiệm hệ thống và (9) triển khai một sốứng dụng.
Rõ ràng là, các dữ liệu/ thông tin hiện đang nằm phân tán, khó tiếp cận, không đồng bộ (loại hình, định dạng…), vì vậy, cần tập hợp toàn bộ, mọi loại hình, mọi dạng, hiện có ở mọi nơi, đánh giá giá trị, đồng bộ hoá sơ bộ, nhập và lưu giữ chúng dưới dạng số. Việc này, khi thực hiện sẽ gặp khó khăn là khó tiếp cận với nguồn thông tin/ dữ liệu vì các cơ quan/ cá nhân đang lưu giữ, quản lý dữ liệu không phải bao giờ cũng sẵn sàng phối hợp, chia sẻ, còn khi đã vượt qua được khó khăn đó, chúng ta sẽ gặp rào cản tiếp theo là chất lượng dữ liệu không đồng đều, khó kiểm tra tính pháp lý/ tin cậy của thông tin.
Ai cũng biết rằng, không thể trao đổi và chia sẻ, cập nhật, tích hợp thông tin nếu không có chuẩn chung. Chính vì vậy, hợp phần xây dựng bộ chuẩn GISHue là hết sức quan trọng, phải được thực hiện đầu tiên, làm chuẩn cho các hợp phần khác. Bộ chuẩn GISHue sẽ là bộ chuẩn chính thức của tỉnh, do UBND tỉnh ra quyết định ban hành, được công bố rộng rãi để tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân đều phải theo tuân theo. Bộ chuẩn này phải được xây dựng phù hợp với các chuẩn quốc tế TC211 và OpenGIS và chuẩn quốc gia trong tương lai. Bộ chuẩn GISHue gồm 4 nhóm (1) các chuẩn thuật ngữ/ khái niệm, (2) các chuẩn quy trình/ quy tắc (đặc biệt là phương pháp kiểm soát/ đánh giá chất lượng dữ liệu), (3) các chuẩn dữ liệu (nền, chuyên ngành, tỉnh hoặc thành phố, số lượng phụ thuộc vào số lượng các dữ liệu sẽ xây dựng), và (4) các chuẩn metadata.
Hợp phần xây dựng các cơ sở dữ liệu là hợp phần lớn nhất của dự án. Vì phạm vi ứng dụng rộng nên có rất nhiều cơ sở dữ liệu cần được xây dựng. Trách nhiệm của dự án là xây dựng các cơ sở dữ liệu quan trọng nhất, cần thiết nhất, dùng chung. Các tổ chức, dự án, cá nhân có trách nhiệm thường xuyên xây dựng các cơ sở dữ liệu. Các cơ sở dữ liệu GIS sẽ được xây dựng, tích hợp, trao đổi và chia sẻ, cập nhật, nâng cấp theo quy định của UBND tỉnh. Trong các cơ sở dữ liệu dùng chung mà dự án GISHue sẽ xây dựng, các cơ sở dữ liệu nền có rất nhiều ứng dụng. Các cơ sở dữ liệu nền gồm các cơ sở dữ liệu địa hình (đường đồng mức và điểm độ cao), địa giới hành chính (quốc gia, tỉnh, huyện, xã, thôn), địa danh, thuỷ hệ và giao thông với tỷ lệ 1/25.000 và 1/10.000 của tỉnh và các huyện và các cơ sở dữ liệu nền tỷ lệ 1/5.000 và 1/2.000 và 1/500 của thành phố Huế1.
Các hợp phần liên quan đến phần cứng, phần mềm và đào tạo là những hợp phần phổ biến nhất của một dự án CNTT, không có gì khác biệt, ngoại trừ việc các phần mềm hệ thống và quản trị cơ sở dữ liệu mà dự án sẽ mua phải là các phần mềm có bản quyền (Việt Nam ta đã là thành viên của WTO rồi mà và các đơn vị thụ hưởng là các cơ quan quản lý nhà nước!). Các lớp đào tạo GIS sẽ không chỉ cung cấp các kiến thức lý thuyết chọn lọc, cơ bản nhất, cần thiết nhất mà còn là các kỹ năng thực hành, để sau khi hoàn thành các lớp, học viên có thể làm việc được với GIS và chủ động triển khai được các ứng dụng.
Là một hệ thống thông tin, một công cụ dùng chung liên quan đến rất nhiều tổ chức và cá nhân, nên GISHue rất cần có các quy định hành chính và kỹ thuật làm quy tắc vận hành. Các quy định này sẽ do UBND tỉnh ra quyết định ban hành và tất cả các tổ chức, dự án và cá nhân phải tuân thủ.
Việc khai thác thử nghiệm các sản phẩm sẽ thực hiện ngay sau khi các sản phẩm hoàn thành, nghiệm thu và đưa vào khai thác (phiên bản beta, 1.0, 2.0…). Người sử dụng trong quá trình sử dụng sẽ phát hiện lỗi, báo cho các tác giả để sửa lỗi. Kết quả, các sản phẩm sẽ hoàn thiện dần, cũng có nghĩa là khi dự án kết thúc toàn bộ hệ thống đã hoàn thiện. Cũng chính người sử dụng sẽ thử nghiệm việc cập nhật, tích hợp (không chỉ với các cơ sở dữ liệu do dự án làm ra), khai thác, chia sẻ thông tin và kiểm tra sự tuân thủ các quy định, sự vận hành của toàn bộ hệ thống.
Việc triển khai các ứng dụng sẽ được thực hiện ở các mức độ khác nhau, trên cơ sở một hoặc nhiều sản phẩm của dự án. Tỉnh hết sức khuyến khích các tổ chức, dự án và cá nhân cùng phối hợp với GISHue để triển khai các ứng dụng bằng cách cung cấp cơ sở dữ liệu nền và bộ chuẩn GISHue miễn phí.
3. Những khác biệt của GISHue hay những cái đầu tiên
Dự án GISHue đang được giới khoa học và quản lý quan tâm vì cả nội dung, quy mô và cách thức tổ chức thực hiện. Trước hết, đúng như tên gọi của nó, GISHue là một hệ thống hoàn chỉnh, bao gồm các yếu tố không thể tách rời (bộ chuẩn, các cơ sở dữ liệu, phần cứng, phần mềm, con người, các quy định hành chính và kỹ thuật), nếu thiếu một trong những yếu tốđó GISHue sẽ không còn là một chỉnh thể toàn vẹn. Điều khác biệt thứ hai là các bản đồ sản phẩm của dự án là các bản đồ sốđúng nghĩa, không phải là số hoá. Bản đồ số hoá chịu 2 lần sai số: lần đầu là các sai số chứa trong bản đồ giấy truyền thống và lần thứ hai là sai số không thể tránh khỏi của công đoạn 1 Chủ trương xây dựng cơ sở dữ liệu nền tỷ lệ 1/500 cho thành phố Huế (hay cơ sở dữ liệu địa chính) đã được UBND tỉnh và Ban Chỉ đạo dự án chấp thuận và đang tiến hành các thủ tục bổ sung, mở rộng dự án số hoá. Để tránh điều đó, GISHue đã kết nối được công đoạn đo vẽ địa hình bằng công nghệ bay chụp và xử lý ảnh hàng không với công đoạn «GIS hoá» cơ sở dữ liệu nền, tiết kiệm được 2 công đoạn kết xuất thành bản đồ giấy và số hoá từ bản đồ giấy. Với GISHue, thông tin/ cơ sở dữ liệu GIS được coi là hạt nhân. Tỷ lệ đầu tư cho việc xây dựng các cơ sở dữ liệu chiếm hơn 50% tổng đầu tư của toàn dự án. Vì tất cả những khác biệt vừa được mô tả, mà dự án GISHue được coi là mô hình thí điểm trong toàn quốc. Đây là mô hình xây dựng GIS ở quy mô toàn tỉnh, bao gồm tất cả các công đoạn, từ xây dựng các cơ sở dữ liệu nền đến triển khai các ứng dụng. Mô hình GISHue sẽ được phổ biến, nhân rộng cho các địa phương khác, và thực sự chúng ta đã chia sẻ kinh nghiệm xây dựng và quản lý dự án với các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Trị, Bình Thuận, Hà Nội, Vĩnh Phúc.
Với nhận thức rằng hệ thống thông tin địa lý vừa là nguồn lực thông tin vừa là công nghệ xử lý thông tin, tỉnh Thừa Thiên Huế hy vọng sẽ có trong tay một kho dữ liệu được chuẩn hoá, dễ tiếp cận, khai thác, có thể sử dụng chung cho cộng đồng. Nếu hệ thông thông tin địa lý của tỉnh được xây dựng và đi vào hoạt động một cách thông suốt, nó sẽ là công cụ trợ giúp UBND tỉnh và các cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh, các địa phương xử lý, lưu giữ, cập nhật, chia sẻ, trao đổi thông tin, làm cho các hoạt động chỉ đạo, điều hành, triển khai thực hiện các họat động quản lý nhà nước… nhanh hơn, có hiệu quả hơn và minh bạch hơn. Những thông tin qua xử lý của hệ thống sẽ có giá trị cao hơn, đáng tin cậy hơn, so sánh được, trao đổi được ở cấp quốc gia và quốc tế.
Triết lý về chia sẻ thông tin của dự án không chỉ là ý tưởng của một nhóm người, mà đã được «luật hoá ». Quy chế tạm thời về quản lý hệ thống thông tin địa lý tỉnh Thừa Thiên Huế quy định : «Các cơ sở dữ liệu thông tin địa lý hình thành trong khuôn khổ dự án GISHue và các cơ sở dữ liệu được hình thành trên cơ sở các sản phẩm của dự án GISHue (gọi chung là cơ sở dữ liệu thông tin địa lý tỉnh Thừa Thiên Huế) là tài sản công của tỉnh Thừa Thiên Huế. Mọi tổ chức và cá nhân đều được tiếp cận, khai thác, sử dụng các cơ sở dữ liệu này phục vụ lợi ích chung, không vì lợi ích cá nhân hoặc cục bộ.
Các tổ chức và cá nhân phải tuân thủ Quy chế này khi tạo lập, nâng cấp, cập nhật, tích hợp, khai thác, sử dụng, trao đổi, chia sẻ và quản lý các cơ sở dữ liệu thông tin địa lý của tỉnh Thừa Thiên Huế.” (Quy chế tạm thời về quản lý hệ thống thông tin địa lý tỉnh Thừa Thiên Huế).
4. Ba yếu tố đảm bảo thành công
4.1 Thiên thời
Thời điểm chúng tôi chuẩn bị và triển khai dự án GISHue đúng vào thời điểm gặp nhau giữa nhu cầu thực tiễn, ý tưởng sáng tạo của tư vấn, quyết định sáng suốt của lãnh đạo, quyết tâm vô điều kiện của các bên tham gia. Dự án tiến hành và thời điểm nhận thức và năng lực nội sinh đủ “chín”. Cụ thể là đúng thời điểm tăng tốc của các chương trình (Chương trình Ứng dụng và phát triển CNTT, Chương trình chụp ảnh địa hình của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Chương trình Cải cách hành chính); nhân lực đã được chuẩn bị một bước (học GIS 13%, đã sử dụng 4%, đang sử dụng 13%; biết (số đứng trước) và sử dụng (số đứng sau) MapInfo (42%,16%), ArcView (14%,5%), ArcGIS (11%,7%), ArcInfo (7%,2%), MicroStation (14%,7%); Đã có một số CSDL: đầm phá (từ dự án VNICZM), 6 loại khoáng sản (Sở Công nghiệp và Sở KHCNMT), rừng, đa dạng sinh học Vường quốc gia Bạch Mã (dự án Hành lang Xanh), xói lở bờ biển khu vực Thuận An, Hoà Duân (đề tài KHCN cấp tỉnh)…
4.2 Địa lợi - nhu cầu thực tiễn của ĐP
Các ngành có nhu cầu cấp thiết để làm quy hoạch tổng thể hoặc quy hoạch ngành (kế hoạch và đầu tư, du lịch, giao thông …), các doanh nghiệp du dịch cần các bản đồ du lịch phục vụ du khách; các công ty tư vấn thiết kế giao thông cần các bản đồ nền địa hình để vạch tuyến và thiết kế các đường giao thông … Trong khi đó bản đồ 364 số hoá có quá nhiều lỗi, không thể sử dụng.
Không những thế các ngành còn có nhu cầu về thông tin đa ngành, tổng hợp, tin cậy được để ra tham mưu hoặc ra quyết định; nhu cầu có công cụ xử lý thông tin nhanh, mạnh, chính xác cho các cơ quan quản lý hành chính nhà nước các cấp, nhu cầu tiếp cận, trao đổi, chia sẻ thông tin, sẵn sàng cho hội nhập quốc tế của toàn xã hội.
4.3 Nhân hoà
Dự án được chuẩn bị và thực hiện trong sự đồng lòng thống nhất từ chủ trương của lãnh đạo đến sự phối hợp của các ngành, từ các chuyên gia tư vấn, giám sát và đơn vị thi công ngoài tỉnh đến cán bộ, chuyên viên tại địa phương. Chúng tôi còn có sựủng hộ mạnh mẽ của các bộ, ngành trung ương (Ban Chỉ đạo dự án, ngào các thành phần của địa phương, còn có thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường và phó chủ tịch Viện KHCN Việt Nam).
Dự án đang có những thành công bước đầu một phần là nhờ “Kiềng ba chân” của chủ đầu tư, các đơn vị thi công và tư vấn giám sát.
5. Kết luận
GIS vừa là hệ thống thông tin, vừa là công cụ hữu dụng cho tất cả chúng ta. GISHue là mô hình thí điểm của cả nước với những mục tiêu đầy tham vọng nhưng khả thi và những khác biệt đáng tự hào. Đến thời điểm này một số sản phẩm của dự án đã có thể/ được đưa vào sử dụng (Bộ chuẩn GISHue và CSDL nền địa hình 1/50.000 và 1/25.000 toàn tỉnh và 1/2.000 của thành phố Huếđã được bàn giao cho 32 đơn vị sử dụng; đã đào tạo xong lớp người dùng). Trong quá trình xây dựng và thực hiện GISHue gặp rất nhiều khó khăn, nhưng đều đã và sẽ vượt qua nhờ ba yếu tố thiên thời, địa lợi và nhân hoà.
GIỚI THIỆU VỀ DỰ ÁN XÂY DỰNG HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ (GISHue)
TS. Đỗ Nam
Sở Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên Huế
1. Quá trình hình thành dự án
Tỉnh Thừa Thiên Huế được tham gia vào đề tài KHCN cấp nhà nước “Xây dựng hệ thống thông tin địa lý” với tư cách một đề tài nhánh và được hội đồng nghiệm thu đánh giá xuất sắc vì nhận thức được rằng hệ thống bao gồm “phần cứng, phần mềm và con người” đã thực hiện đúng như thế. Sau đó, các sản phẩm của đề tài đó đã được phát huy, thông qua đề tài KHCN cấp tỉnh “Ứng dụng công nghệ GIS vào quản lý hồ sơ địa chính” ở sở Địa chính, các dự án “Phát triển đô thị Huế - SDC (Thuỵ Sĩ)” và Quản lý tổng hợp vùng ven bờ tỉnh Việt Nam – Hà Lan (VNICZM) ở Thừa Thiên Huếđã sử dụng các bản đồ GIS số hoá do đề tài cung cấp.
Đầu năm 2003 lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế có thư gửi các chuyên gia tư vấn đề nghị nghiên cứu xây dựng dự án, sau hơn hai năm chuẩn bị, đến tháng 6 năm 2006 dự án chính thức được phê duyệt (QĐ số 2123/QĐ-UB của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế ngày 24/6/2005 phê duyệt DA đầu tư với tổng vốn 22 tỷ đồng, Sở KHCN Thừa Thiên Huếđược giao nhiệm vụ là chủđầu tư).
2. Giới thiệu tóm tắt GISHue
2.1 Các mục tiêu
Mục tiêu tổng quát của dự án là “CNTT nói chung, công nghệ GIS nói riêng được ứng dụng một cách có hiệu quảở các cơ quan hành chính, các tổ chức sự nghiệp và các doanh nghiệp trên địa bàn, góp phần đạt được mục tiêu của chương trình cải cách hành chính và chương trình ứng dụng và phát triển CNTT giai đoạn 2006-2010 của địa phương.”
Dự án có 4 mục tiêu cụ thể. Một là “Các thông tin đa ngành liên quan đến các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường, kinh tế và xã hội của tỉnh và một số ngành kinh tế - xã hội (KTXH) trọng điểm được thu thập, tổng hợp và chuyển đổi về dạng dữ liệu số lưu giữ trong máy tính. Hai là “Các cơ sở dữ liệu thông tin địa lý của tỉnh được tạo lập và sẵn sàng cho các mục đích sử dụng khác nhau". Ba là “Các cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh, thành phố Huế và các huyện có đủ cơ sở hạ tầng vật lý, các phần mềm và nhân lực để quản lý và sử dụng các CSDL thông tin địa lý đã và sẽ được xây dựng”. Mục tiêu cuối cùng là “Hệ thống thông tin địa lý của tỉnh được khai thác thử nghiệm và ứng dụng phục vụ các hoạt động quản lý của các ngành và các địa phương.”
Nếu dự án thành công, các tổ chức quản lý hành chính nhà nước địa phương sẽ có công cụ xử lý và quản lý, cộng đồng xã hội sẽ có thông tin và các tổ chức, cá nhân tham gia dự án sẽ có kinh nghiệm tư vấn xây dựng, thẩm định, giám sát và thực hiện dự án. Có nghĩa là tất cả mọi người đều được hưởng lợi từ dự án !
2.2 Các hoạt động hướng đến mục tiêu và các sản phẩm chính
Để đạt được các mục tiêu đề ra, dự án GISHue được thiết kế thành 9 hợp phần là (1) thu thập, phân loại, số hoá dữ liệu, (2) xây dựng bộ chuẩn GISHue, (3) xây dựng các cơ sở dữ liệu thông tin địa lý, (4) xây dựng cơ sở hạ tầng vật lý, (5) mua và xây dựng các phần mềm GIS, (6) đào tạo, (7) xây dựng các quy định kỹ thuật và hành chính, (8) khai thác thử nghiệm hệ thống và (9) triển khai một sốứng dụng.
Rõ ràng là, các dữ liệu/ thông tin hiện đang nằm phân tán, khó tiếp cận, không đồng bộ (loại hình, định dạng…), vì vậy, cần tập hợp toàn bộ, mọi loại hình, mọi dạng, hiện có ở mọi nơi, đánh giá giá trị, đồng bộ hoá sơ bộ, nhập và lưu giữ chúng dưới dạng số. Việc này, khi thực hiện sẽ gặp khó khăn là khó tiếp cận với nguồn thông tin/ dữ liệu vì các cơ quan/ cá nhân đang lưu giữ, quản lý dữ liệu không phải bao giờ cũng sẵn sàng phối hợp, chia sẻ, còn khi đã vượt qua được khó khăn đó, chúng ta sẽ gặp rào cản tiếp theo là chất lượng dữ liệu không đồng đều, khó kiểm tra tính pháp lý/ tin cậy của thông tin.
Ai cũng biết rằng, không thể trao đổi và chia sẻ, cập nhật, tích hợp thông tin nếu không có chuẩn chung. Chính vì vậy, hợp phần xây dựng bộ chuẩn GISHue là hết sức quan trọng, phải được thực hiện đầu tiên, làm chuẩn cho các hợp phần khác. Bộ chuẩn GISHue sẽ là bộ chuẩn chính thức của tỉnh, do UBND tỉnh ra quyết định ban hành, được công bố rộng rãi để tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân đều phải theo tuân theo. Bộ chuẩn này phải được xây dựng phù hợp với các chuẩn quốc tế TC211 và OpenGIS và chuẩn quốc gia trong tương lai. Bộ chuẩn GISHue gồm 4 nhóm (1) các chuẩn thuật ngữ/ khái niệm, (2) các chuẩn quy trình/ quy tắc (đặc biệt là phương pháp kiểm soát/ đánh giá chất lượng dữ liệu), (3) các chuẩn dữ liệu (nền, chuyên ngành, tỉnh hoặc thành phố, số lượng phụ thuộc vào số lượng các dữ liệu sẽ xây dựng), và (4) các chuẩn metadata.
Hợp phần xây dựng các cơ sở dữ liệu là hợp phần lớn nhất của dự án. Vì phạm vi ứng dụng rộng nên có rất nhiều cơ sở dữ liệu cần được xây dựng. Trách nhiệm của dự án là xây dựng các cơ sở dữ liệu quan trọng nhất, cần thiết nhất, dùng chung. Các tổ chức, dự án, cá nhân có trách nhiệm thường xuyên xây dựng các cơ sở dữ liệu. Các cơ sở dữ liệu GIS sẽ được xây dựng, tích hợp, trao đổi và chia sẻ, cập nhật, nâng cấp theo quy định của UBND tỉnh. Trong các cơ sở dữ liệu dùng chung mà dự án GISHue sẽ xây dựng, các cơ sở dữ liệu nền có rất nhiều ứng dụng. Các cơ sở dữ liệu nền gồm các cơ sở dữ liệu địa hình (đường đồng mức và điểm độ cao), địa giới hành chính (quốc gia, tỉnh, huyện, xã, thôn), địa danh, thuỷ hệ và giao thông với tỷ lệ 1/25.000 và 1/10.000 của tỉnh và các huyện và các cơ sở dữ liệu nền tỷ lệ 1/5.000 và 1/2.000 và 1/500 của thành phố Huế1.
Các hợp phần liên quan đến phần cứng, phần mềm và đào tạo là những hợp phần phổ biến nhất của một dự án CNTT, không có gì khác biệt, ngoại trừ việc các phần mềm hệ thống và quản trị cơ sở dữ liệu mà dự án sẽ mua phải là các phần mềm có bản quyền (Việt Nam ta đã là thành viên của WTO rồi mà và các đơn vị thụ hưởng là các cơ quan quản lý nhà nước!). Các lớp đào tạo GIS sẽ không chỉ cung cấp các kiến thức lý thuyết chọn lọc, cơ bản nhất, cần thiết nhất mà còn là các kỹ năng thực hành, để sau khi hoàn thành các lớp, học viên có thể làm việc được với GIS và chủ động triển khai được các ứng dụng.
Là một hệ thống thông tin, một công cụ dùng chung liên quan đến rất nhiều tổ chức và cá nhân, nên GISHue rất cần có các quy định hành chính và kỹ thuật làm quy tắc vận hành. Các quy định này sẽ do UBND tỉnh ra quyết định ban hành và tất cả các tổ chức, dự án và cá nhân phải tuân thủ.
Việc khai thác thử nghiệm các sản phẩm sẽ thực hiện ngay sau khi các sản phẩm hoàn thành, nghiệm thu và đưa vào khai thác (phiên bản beta, 1.0, 2.0…). Người sử dụng trong quá trình sử dụng sẽ phát hiện lỗi, báo cho các tác giả để sửa lỗi. Kết quả, các sản phẩm sẽ hoàn thiện dần, cũng có nghĩa là khi dự án kết thúc toàn bộ hệ thống đã hoàn thiện. Cũng chính người sử dụng sẽ thử nghiệm việc cập nhật, tích hợp (không chỉ với các cơ sở dữ liệu do dự án làm ra), khai thác, chia sẻ thông tin và kiểm tra sự tuân thủ các quy định, sự vận hành của toàn bộ hệ thống.
Việc triển khai các ứng dụng sẽ được thực hiện ở các mức độ khác nhau, trên cơ sở một hoặc nhiều sản phẩm của dự án. Tỉnh hết sức khuyến khích các tổ chức, dự án và cá nhân cùng phối hợp với GISHue để triển khai các ứng dụng bằng cách cung cấp cơ sở dữ liệu nền và bộ chuẩn GISHue miễn phí.
3. Những khác biệt của GISHue hay những cái đầu tiên
Dự án GISHue đang được giới khoa học và quản lý quan tâm vì cả nội dung, quy mô và cách thức tổ chức thực hiện. Trước hết, đúng như tên gọi của nó, GISHue là một hệ thống hoàn chỉnh, bao gồm các yếu tố không thể tách rời (bộ chuẩn, các cơ sở dữ liệu, phần cứng, phần mềm, con người, các quy định hành chính và kỹ thuật), nếu thiếu một trong những yếu tốđó GISHue sẽ không còn là một chỉnh thể toàn vẹn. Điều khác biệt thứ hai là các bản đồ sản phẩm của dự án là các bản đồ sốđúng nghĩa, không phải là số hoá. Bản đồ số hoá chịu 2 lần sai số: lần đầu là các sai số chứa trong bản đồ giấy truyền thống và lần thứ hai là sai số không thể tránh khỏi của công đoạn 1 Chủ trương xây dựng cơ sở dữ liệu nền tỷ lệ 1/500 cho thành phố Huế (hay cơ sở dữ liệu địa chính) đã được UBND tỉnh và Ban Chỉ đạo dự án chấp thuận và đang tiến hành các thủ tục bổ sung, mở rộng dự án số hoá. Để tránh điều đó, GISHue đã kết nối được công đoạn đo vẽ địa hình bằng công nghệ bay chụp và xử lý ảnh hàng không với công đoạn «GIS hoá» cơ sở dữ liệu nền, tiết kiệm được 2 công đoạn kết xuất thành bản đồ giấy và số hoá từ bản đồ giấy. Với GISHue, thông tin/ cơ sở dữ liệu GIS được coi là hạt nhân. Tỷ lệ đầu tư cho việc xây dựng các cơ sở dữ liệu chiếm hơn 50% tổng đầu tư của toàn dự án. Vì tất cả những khác biệt vừa được mô tả, mà dự án GISHue được coi là mô hình thí điểm trong toàn quốc. Đây là mô hình xây dựng GIS ở quy mô toàn tỉnh, bao gồm tất cả các công đoạn, từ xây dựng các cơ sở dữ liệu nền đến triển khai các ứng dụng. Mô hình GISHue sẽ được phổ biến, nhân rộng cho các địa phương khác, và thực sự chúng ta đã chia sẻ kinh nghiệm xây dựng và quản lý dự án với các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Trị, Bình Thuận, Hà Nội, Vĩnh Phúc.
Với nhận thức rằng hệ thống thông tin địa lý vừa là nguồn lực thông tin vừa là công nghệ xử lý thông tin, tỉnh Thừa Thiên Huế hy vọng sẽ có trong tay một kho dữ liệu được chuẩn hoá, dễ tiếp cận, khai thác, có thể sử dụng chung cho cộng đồng. Nếu hệ thông thông tin địa lý của tỉnh được xây dựng và đi vào hoạt động một cách thông suốt, nó sẽ là công cụ trợ giúp UBND tỉnh và các cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh, các địa phương xử lý, lưu giữ, cập nhật, chia sẻ, trao đổi thông tin, làm cho các hoạt động chỉ đạo, điều hành, triển khai thực hiện các họat động quản lý nhà nước… nhanh hơn, có hiệu quả hơn và minh bạch hơn. Những thông tin qua xử lý của hệ thống sẽ có giá trị cao hơn, đáng tin cậy hơn, so sánh được, trao đổi được ở cấp quốc gia và quốc tế.
Triết lý về chia sẻ thông tin của dự án không chỉ là ý tưởng của một nhóm người, mà đã được «luật hoá ». Quy chế tạm thời về quản lý hệ thống thông tin địa lý tỉnh Thừa Thiên Huế quy định : «Các cơ sở dữ liệu thông tin địa lý hình thành trong khuôn khổ dự án GISHue và các cơ sở dữ liệu được hình thành trên cơ sở các sản phẩm của dự án GISHue (gọi chung là cơ sở dữ liệu thông tin địa lý tỉnh Thừa Thiên Huế) là tài sản công của tỉnh Thừa Thiên Huế. Mọi tổ chức và cá nhân đều được tiếp cận, khai thác, sử dụng các cơ sở dữ liệu này phục vụ lợi ích chung, không vì lợi ích cá nhân hoặc cục bộ.
Các tổ chức và cá nhân phải tuân thủ Quy chế này khi tạo lập, nâng cấp, cập nhật, tích hợp, khai thác, sử dụng, trao đổi, chia sẻ và quản lý các cơ sở dữ liệu thông tin địa lý của tỉnh Thừa Thiên Huế.” (Quy chế tạm thời về quản lý hệ thống thông tin địa lý tỉnh Thừa Thiên Huế).
4. Ba yếu tố đảm bảo thành công
4.1 Thiên thời
Thời điểm chúng tôi chuẩn bị và triển khai dự án GISHue đúng vào thời điểm gặp nhau giữa nhu cầu thực tiễn, ý tưởng sáng tạo của tư vấn, quyết định sáng suốt của lãnh đạo, quyết tâm vô điều kiện của các bên tham gia. Dự án tiến hành và thời điểm nhận thức và năng lực nội sinh đủ “chín”. Cụ thể là đúng thời điểm tăng tốc của các chương trình (Chương trình Ứng dụng và phát triển CNTT, Chương trình chụp ảnh địa hình của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Chương trình Cải cách hành chính); nhân lực đã được chuẩn bị một bước (học GIS 13%, đã sử dụng 4%, đang sử dụng 13%; biết (số đứng trước) và sử dụng (số đứng sau) MapInfo (42%,16%), ArcView (14%,5%), ArcGIS (11%,7%), ArcInfo (7%,2%), MicroStation (14%,7%); Đã có một số CSDL: đầm phá (từ dự án VNICZM), 6 loại khoáng sản (Sở Công nghiệp và Sở KHCNMT), rừng, đa dạng sinh học Vường quốc gia Bạch Mã (dự án Hành lang Xanh), xói lở bờ biển khu vực Thuận An, Hoà Duân (đề tài KHCN cấp tỉnh)…
4.2 Địa lợi - nhu cầu thực tiễn của ĐP
Các ngành có nhu cầu cấp thiết để làm quy hoạch tổng thể hoặc quy hoạch ngành (kế hoạch và đầu tư, du lịch, giao thông …), các doanh nghiệp du dịch cần các bản đồ du lịch phục vụ du khách; các công ty tư vấn thiết kế giao thông cần các bản đồ nền địa hình để vạch tuyến và thiết kế các đường giao thông … Trong khi đó bản đồ 364 số hoá có quá nhiều lỗi, không thể sử dụng.
Không những thế các ngành còn có nhu cầu về thông tin đa ngành, tổng hợp, tin cậy được để ra tham mưu hoặc ra quyết định; nhu cầu có công cụ xử lý thông tin nhanh, mạnh, chính xác cho các cơ quan quản lý hành chính nhà nước các cấp, nhu cầu tiếp cận, trao đổi, chia sẻ thông tin, sẵn sàng cho hội nhập quốc tế của toàn xã hội.
4.3 Nhân hoà
Dự án được chuẩn bị và thực hiện trong sự đồng lòng thống nhất từ chủ trương của lãnh đạo đến sự phối hợp của các ngành, từ các chuyên gia tư vấn, giám sát và đơn vị thi công ngoài tỉnh đến cán bộ, chuyên viên tại địa phương. Chúng tôi còn có sựủng hộ mạnh mẽ của các bộ, ngành trung ương (Ban Chỉ đạo dự án, ngào các thành phần của địa phương, còn có thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường và phó chủ tịch Viện KHCN Việt Nam).
Dự án đang có những thành công bước đầu một phần là nhờ “Kiềng ba chân” của chủ đầu tư, các đơn vị thi công và tư vấn giám sát.
5. Kết luận
GIS vừa là hệ thống thông tin, vừa là công cụ hữu dụng cho tất cả chúng ta. GISHue là mô hình thí điểm của cả nước với những mục tiêu đầy tham vọng nhưng khả thi và những khác biệt đáng tự hào. Đến thời điểm này một số sản phẩm của dự án đã có thể/ được đưa vào sử dụng (Bộ chuẩn GISHue và CSDL nền địa hình 1/50.000 và 1/25.000 toàn tỉnh và 1/2.000 của thành phố Huếđã được bàn giao cho 32 đơn vị sử dụng; đã đào tạo xong lớp người dùng). Trong quá trình xây dựng và thực hiện GISHue gặp rất nhiều khó khăn, nhưng đều đã và sẽ vượt qua nhờ ba yếu tố thiên thời, địa lợi và nhân hoà.
______________________
Tác giả: Mr. Phương
| < Lùi | Tiếp theo > |
|---|

Chat:
Chat:
Hotline: 0908.953.118
Email: 





